Lý luận giai cấp là một trong những nền tảng quan trọng của Chủ nghĩa Mác - Lênin, giải thích về sự phân hóa giai cấp trong lịch sử và vai trò của đấu tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội. Hãy cùng Ôn thi sinh viên tìm hiểu trong bài viết này!

1. Định nghĩa về giai cấp
- Kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph. Ăngghen, trong tác phẩm “Sáng kiến vĩ đại”, V.I.Lênin đã đưa ra một định nghĩa khoa học về giai cấp. “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử, khác nhau về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp luật quy định và thừa nhận) đối với tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội và như vậy là khác nhau về cách thức hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác, do chỗ tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế - xã hội nhất định”.
Ví dụ:
+ Chủ nô và nô lệ là hai giai cấp đối lập nhau trong xã hội cổ đại.
+ Tư sản và vô sản là hai giai cấp đối lập trong xã hội cận đại và đương đại.
+ Phong kiến và nông nô (có cách gọi khác là địa chủ và tá điền) là hai giai cấp trong xã hội trung cổ.
Ví dụ:
+ Chủ nô và nô lệ là hai giai cấp đối lập nhau trong xã hội cổ đại.
+ Tư sản và vô sản là hai giai cấp đối lập trong xã hội cận đại và đương đại.
+ Phong kiến và nông nô (có cách gọi khác là địa chủ và tá điền) là hai giai cấp trong xã hội trung cổ.
2. Đặc trưng của giai cấp
- Đặc trưng thứ nhất: Giai cấp là những tập đoàn người có địa vị khác nhau trong một hệ thống sản xuất nhất định. Điều đó có nghĩa là giai cấp chỉ là một hiện tượng mang tính chất lịch sử, nó chỉ tồn tại và phát triển trong những điều kiện lịch sử xã hội nhất định. Giai cấp không phải tồn tại trong tất cả các xã hội khác nhau của lịch sử và nó không thể tồn tại vĩnh viễn và tuyệt đối.
Ví dụ: Trong xã hội nguyên thủy là một xã hội không có giai cấp và nếu như xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản thì cũng là một xã hội không có giai cấp.
- Đặc trưng thứ hai: Các giai cấp có mối quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất. Quan hệ với tư liệu sản xuất của xã hội, thực chất là quan hệ với sở hữu tư liệu sản xuất được thể hiện trong quan hệ sản xuất vật chất của xã hội. Đây là quan hệ có tính chất quyết định với những quan hệ khác của giai cấp như quan hệ về địa vị xã hội và tổ chức sản xuất vật chất của xã hội.
Ví dụ: Chủ nô (trong chế độ nô lệ), địa chủ (trong chế độ phong kiến), tư sản (trong chế độ tư bản) là những tập đoàn người giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu trước hết do các tập đoàn người này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội. Tức là họ nắm được phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng để chi phối lao động của các tập đoàn người không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất. Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất (nô lệ, nông nô (hay tá điền), vô sản trong các xã hội tương ứng) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trị.
Ví dụ: Trong xã hội nguyên thủy là một xã hội không có giai cấp và nếu như xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản thì cũng là một xã hội không có giai cấp.
- Đặc trưng thứ hai: Các giai cấp có mối quan hệ khác nhau đối với tư liệu sản xuất. Quan hệ với tư liệu sản xuất của xã hội, thực chất là quan hệ với sở hữu tư liệu sản xuất được thể hiện trong quan hệ sản xuất vật chất của xã hội. Đây là quan hệ có tính chất quyết định với những quan hệ khác của giai cấp như quan hệ về địa vị xã hội và tổ chức sản xuất vật chất của xã hội.
Ví dụ: Chủ nô (trong chế độ nô lệ), địa chủ (trong chế độ phong kiến), tư sản (trong chế độ tư bản) là những tập đoàn người giữ địa vị thống trị trong hệ thống kinh tế xã hội mà họ là đại biểu trước hết do các tập đoàn người này chiếm hữu tư liệu sản xuất xã hội. Tức là họ nắm được phương tiện, điều kiện vật chất quan trọng để chi phối lao động của các tập đoàn người không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất. Những tập đoàn người bị mất tư liệu sản xuất (nô lệ, nông nô (hay tá điền), vô sản trong các xã hội tương ứng) buộc phải phụ thuộc về kinh tế vào các tập đoàn thống trị.
- Đặc trưng thứ ba: Các giai cấp có vai trò khác nhau trong việc tổ chức lao động xã hội. Quan hệ này phụ thuộc vào quan hệ thứ hai, bởi vì các giai cấp có vai trò khác nhau trong việc tổ chức lao động xã hội phải phụ thuộc vào quan hệ sở hữu với tư liệu sản xuất của xã hội. Nếu như giai cấp nào nắm tư liệu sản xuất vật chất của xã hội thì giai cấp đó trở thành giai cấp thống trị và có quyền tổ chức lao động sản xuất xã hội.
Ví dụ: Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, vai trò, chức năng quản lý công nghiệp và các ngành kinh tế khác phải thuộc về các nhà tư bản.
- Đặc trưng thứ tư: Các giai cấp có những phương thức và quy mô thu nhập khác nhau về của cải xã hội, phụ thuộc vào địa vị của giai cấp đó trong hệ thống sản xuất xã hội nhất định. Đặc trưng này cũng phụ thuộc vào đặc trưng thứ hai. Bởi sự khác nhau về thu nhập, phương thức thu nhập đều phụ thuộc vào quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất vật chất của xã hội.Thực chất của quan hệ giai cấp là quan hệ bóc lột và bị bóc lột. Quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các giai cấp khác nhau trong xã hội.
Ví dụ: Trong xã hội nô lệ, những người nô lệ sống không khác gì súc vật. Trong xã hội phong kiến, phần lớn sản phẩm của nông nô và nông dân làm ra phải cống nạp cho địa chủ, vua quan, thậm chí có trường hợp đến 80% – 90% sản phẩm.
Bốn đặc trưng trên có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó đặc trưng thứ hai là quan trọng nhất; nhưng đồng thời thiếu một trong bốn đặc trưng thì cũng không thành giai cấp. Như vậy, giai cấp là một phạm trù lịch sử, có nghĩa là giai cấp chỉ xuất hiện và tồn tại trong những điều kiện lịch sử nhất định. Giai cấp là các tập đoàn người to lớn, mà sự khác nhau căn bản của họ là sự khác nhau về các mặt của quan hệ sản xuất. Giai cấp và quan hệ giai cấp không phải là quan hệ giữa các cá nhân riêng lẻ, mà là quan hệ giữa các tập đoàn người thông qua các tổ chức chính trị xã hội nhất định. Sự phân chia xã hội thành giai cấp dẫn đến sự xuất hiện mâu thuẫn và quá trình đấu tranh giai cấp trong lịch sử.
Định nghĩa giai cấp của Lênin cho thấy, giai cấp là một phạm trù kinh tế - xã hội có tính lịch sử, sự tồn tại của nó gắn với những hệ thống sản xuất xã hội dựa trên cơ sở của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Sự xuất hiện và tồn tại của giai cấp xét đến cùng là do nguyên nhân kinh tế. Tuy nhiên, không được biến định nghĩa giai cấp thành một phạm trù kinh tế đơn thuần. Chỉ có thể xem xét các giai cấp trong hệ thống những mối quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp và không ngừng vận động, biến đổi mới có thể nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc sự khác biệt của các giai cấp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, tâm lý, đạo đức, lối sống… Định nghĩa giai cấp của V.I.Lênin mang bản chất cách mạng và khoa học, có giá trị to lớn về lý luận và thực tiễn. Đây là cơ sở để nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, bản chất của các giai cấp trong lịch sử; đồng thời trang bị cho giai cấp vô sản cơ sở lý luận khoa học để nhận thức được vai trò lịch sử của giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh xóa bỏ giai cấp và xây dựng xã hội mới.
3. Nguồn gốc của giai cấp
- Giai cấp là một hiện tượng xã hội xuất hiện lâu dài trong lịch sử gắn với những điều kiện sản xuất vật chất nhất định của xã hội. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chứng minh được rằng, nguồn gốc của sự xuất hiện và mất đi của những giai cấp cụ thể và của xã hội có giai cấp đều dựa trên tính tất yếu kinh tế, “gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất.”
- Đầu tiên, trong xã hội nguyên thuỷ, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên để sống sót họ phải nương tựa vào nhau theo bầy đàn. Trong điều kiện đó giai cấp chưa xuất hiện.
- Qua quá trình phát triển, các công cụ lao động nhờ đó tăng lên đáng kể, phân công lao động xã hội to đó được hình thành, xuất hiện của cải dư thừa, những người có quyền trong bộ lạc thị tộc lạm dụng quyền của mình để chiếm thành của riêng, chế độ tư hữu ra đời đánh dấu sự ra đời của giai cấp nô lệ ra đời: do đó thừa của cải, tù binh bắt được sử dụng làm người phục vụ cho những người giàu và có địa vị trong xã hội, họ được gọi là nô lệ, chế độ có giai cấp chính thức được hình thành từ đó. Như vậy, nguyên nhân sâu xa của sự xuất hiện giai cấp là sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, xuất hiện “của dư”, tạo khả năng khách quan, tiền đề cho tập đoàn người này chiếm đoạt lao động của người khác.Nguyên nhân trực tiếp đưa tới sự ra đời của giai cấp là xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp.
- Đầu tiên, trong xã hội nguyên thuỷ, cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên để sống sót họ phải nương tựa vào nhau theo bầy đàn. Trong điều kiện đó giai cấp chưa xuất hiện.
- Qua quá trình phát triển, các công cụ lao động nhờ đó tăng lên đáng kể, phân công lao động xã hội to đó được hình thành, xuất hiện của cải dư thừa, những người có quyền trong bộ lạc thị tộc lạm dụng quyền của mình để chiếm thành của riêng, chế độ tư hữu ra đời đánh dấu sự ra đời của giai cấp nô lệ ra đời: do đó thừa của cải, tù binh bắt được sử dụng làm người phục vụ cho những người giàu và có địa vị trong xã hội, họ được gọi là nô lệ, chế độ có giai cấp chính thức được hình thành từ đó. Như vậy, nguyên nhân sâu xa của sự xuất hiện giai cấp là sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho năng suất lao động tăng lên, xuất hiện “của dư”, tạo khả năng khách quan, tiền đề cho tập đoàn người này chiếm đoạt lao động của người khác.Nguyên nhân trực tiếp đưa tới sự ra đời của giai cấp là xã hội xuất hiện chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất. Chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất là cơ sở trực tiếp của sự hình thành các giai cấp.
4. Kết cấu xã hội – giai cấp
Kết cấu xã hội – giai cấp là tổng thể các giai cấp và mối quan hệ giữa các giai cấp, tồn tại trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
- Trong một kết cấu xã hội – giai cấp bao giờ cũng gồm có hai giai cấp cơ bản và những giai cấp không cơ bản, hoặc các tầng lớp xã hội trung gian. Giai cấp cơ bản là giai cấp gắn với phương thức sản xuất thống trị, là sản phẩm của những phương thức sản xuất thống trị nhất định. Đó là giai cấp chủ nô và nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ; giai cấp địa chủ và nông dân trong xã hội phong kiến; giai cấp tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Những giai cấp không cơ bản là những giai cấp gắn với phương thức sản xuất tàn dư, hoặc mầm mống trong xã hội.
+ Những giai cấp không cơ bản gắn với phương thức sản xuất tàn dư, như nô lệ trong buổi đầu xã hội phong kiến; địa chủ và nông nô trong buổi đầu xã hội tư bản...Thông thường các giai cấp do phương thức sản xuất tàn dư của xã hội sản sinh ra sẽ tàn lụi dần cùng với sự phát triển của xã hội.
+ Những giai cấp không cơ bản gắn với phương thức sản xuất mầm mống, như tiểu chủ, tiểu thương, tư sản, vô sản trong giai đoạn cuối xã hội phong kiến...Các giai cấp do phương thức sản xuất mầm mống sản sinh ra chính là mặt phủ định xã hội cũ.
- Trong xã hội có giai cấp, ngoài những giai cấp cơ bản và không cơ bản còn có các tầng lớp và nhóm xã hội nhất định (như tầng lớp trí thức, nhân sĩ, giới tu hành...). Mặc dù các tầng lớp, nhóm xã hội không có địa vị kinh tế độc lập, song nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội nói chung và tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể mà nó có thể phục vụ cho giai cấp này, hoặc giai cấp khác.
- Kết cấu xã hội – giai cấp luôn có sự vận động và biến đổi không ngừng. Sự vận động, biến đổi đó diễn ra không chỉ khi xã hội có sự chuyển biến các phương thức sản xuất, mà cả trong quá trình phát triển của mỗi phương thức sản xuất.
- Phân tích kết cấu xã hội – giai cấp và khuynh hướng vận động, phát triển của nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong điều kiện hiện nay. Giúp cho chính đảng của giai cấp vô sản xác định đúng các mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu của xã hội; nhận thức đúng địa vị, vai trò và thái độ chính trị của mỗi giai cấp. Trên cơ sở đó để xác định đối Tượng và lực lượng cách mạng; nhiệm vụ và giai cấp lãnh đạo cách mạng...
- Trong một kết cấu xã hội – giai cấp bao giờ cũng gồm có hai giai cấp cơ bản và những giai cấp không cơ bản, hoặc các tầng lớp xã hội trung gian. Giai cấp cơ bản là giai cấp gắn với phương thức sản xuất thống trị, là sản phẩm của những phương thức sản xuất thống trị nhất định. Đó là giai cấp chủ nô và nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ; giai cấp địa chủ và nông dân trong xã hội phong kiến; giai cấp tư sản và vô sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa.
- Những giai cấp không cơ bản là những giai cấp gắn với phương thức sản xuất tàn dư, hoặc mầm mống trong xã hội.
+ Những giai cấp không cơ bản gắn với phương thức sản xuất tàn dư, như nô lệ trong buổi đầu xã hội phong kiến; địa chủ và nông nô trong buổi đầu xã hội tư bản...Thông thường các giai cấp do phương thức sản xuất tàn dư của xã hội sản sinh ra sẽ tàn lụi dần cùng với sự phát triển của xã hội.
+ Những giai cấp không cơ bản gắn với phương thức sản xuất mầm mống, như tiểu chủ, tiểu thương, tư sản, vô sản trong giai đoạn cuối xã hội phong kiến...Các giai cấp do phương thức sản xuất mầm mống sản sinh ra chính là mặt phủ định xã hội cũ.
- Trong xã hội có giai cấp, ngoài những giai cấp cơ bản và không cơ bản còn có các tầng lớp và nhóm xã hội nhất định (như tầng lớp trí thức, nhân sĩ, giới tu hành...). Mặc dù các tầng lớp, nhóm xã hội không có địa vị kinh tế độc lập, song nó có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội nói chung và tuỳ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể mà nó có thể phục vụ cho giai cấp này, hoặc giai cấp khác.
- Kết cấu xã hội – giai cấp luôn có sự vận động và biến đổi không ngừng. Sự vận động, biến đổi đó diễn ra không chỉ khi xã hội có sự chuyển biến các phương thức sản xuất, mà cả trong quá trình phát triển của mỗi phương thức sản xuất.
- Phân tích kết cấu xã hội – giai cấp và khuynh hướng vận động, phát triển của nó có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về lý luận và thực tiễn trong điều kiện hiện nay. Giúp cho chính đảng của giai cấp vô sản xác định đúng các mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu của xã hội; nhận thức đúng địa vị, vai trò và thái độ chính trị của mỗi giai cấp. Trên cơ sở đó để xác định đối Tượng và lực lượng cách mạng; nhiệm vụ và giai cấp lãnh đạo cách mạng...
5. Tài liệu ôn tập Triết học Mác - Lênin
Để có thể học tập môn học này hiệu quả, sinh viên cần chú ý ôn tập cả lý thuyết và bài tập. Tài liệu Ôn thi sinh viên có đầy đủ và chi tiết nội dung các chương, bên cạnh đó, các bạn cũng được tham gia thi thử các chương và tham khảo đề thi của các năm khác.
Hy vọng bài viết này hữu ích với bạn. Chúc các bạn học tốt nhé!
Liên hệ tương tác trực tiếp qua zalo: 0359.286.819 (chị Linh - giải quyết khó khăn môn Nguyên lý kế toán, Kế toán tài chính TẤT CẢ CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC)💥Giải đáp FREE các câu hỏi về NGUYÊN LÝ KẾ TOÁN
💥Nhận gia sư 1-1 cấp tốc cho người mất gốc (online/offline)
💥Nhận booking giải bài tập về nhà, đề cương ôn tập , làm mẫu các đề thi (có đáp án và giải thích chi tiết)
Đọc chi tiết dịch vụ tại đây
📍 KHÔNG NHẬN THI HỘ - HỌC LÀ HIỂU BẢN CHẤT




